Sunday, December 31, 2000

Rau răm và rau nghể răm làm thuốc

Nhiều món khoái khẩu như trứng vịt lộn, cháo lươn, bún thang, các món canh từ ngao, sò hến đều không thể thiếu rau răm... nhưng không phải ai cũng biết đến tác dụng phòng trị bệnh của nó.

Theo Đông y, rau răm có tác dụng chống viêm hạ khí, kích thích tiêu hoá, trừ phong hàn, hoạt huyết, tiêu độc. Rau răm được dùng cả lá cả cây. Có thể dùng tươi hoặc phơi khô. Giã sống vắt lấy nước uống, bã đắp. Dùng khô sắc uống. Nó được dùng riêng hoặc phối hợp cùng những vị khác để thành bài. Rau răm không độc. Xin giới thiệu một số cách dùng rau răm làm thuốc:

Chữa bụng đầy trướng tiêu hoá kém: một nắm rau răm rửa sạch giã nhỏ vắt lấy nước uống. Bã đem xoa vào bụng (xoa tập trung vào vùng rốn).

Rau răm.

Rau răm.

Cảm cúm hắt hơi sổ mũi: rau răm một nắm, gừng sống 3 lát. Hai thứ giã nhỏ vắt lấy nước uống.

Hoặc rau răm 20g, tía tô 20g, kinh giới 16g, xương bồ 16g, xuyên khung 10g, bạch chỉ 10g, thiên niên kiện 10g. Sắc uống.

Chữa rắn cắn: rau răm một nắm giã nhỏ vắt lấy nước cho nạn nhân uống.

Đau bụng tiêu chảy do nhiễm lạnh: rau răm (khô) 16g, bạch truật 12g, kinh giới 16g, lương khương 12g, quế 10g, gừng nướng 4g. Các vị cho vào nồi, đổ nước 2 bát, sắc còn 1 bát. Chia 2 lần uống trong ngày.

Nước ăn chân: rau răm giã nhỏ đắp vào nơi tổn thương hoặc giã nhỏ lấy nước cốt chấm vào nơi bị đau. Ngày 2 lần (giữ cho vết thương được khô ráo để chống bội nhiễm).

Mụn nhọt đang ở giai đoạn cương: rau răm một nắm, muối vài hạt. Hai thứ giã nhỏ, đắp vào, băng lại. Ngày thay thuốc 1 lần. Bài này dùng cho tất cả những trường hợp mụt nhọt, áp-xe đang ở giai đoạn đầu. Có tác dụng: chống viêm, hoạt huyết, tiết độc.

Theo TS. Võ Văn Chi, rau răm là vị thuốc kích thích tiêu hoá, làm cho ăn ngon miệng. Cũng dùng làm thuốc lợi tiểu chữa phù thũng, chữa dạ dày lạnh, đầy hơi, đau bụng. Ăn sống thì ấm bụng, mạnh chân, gối, làm sáng mắt. Ăn nhiều thì làm dịu tình dục, kém khí, ít tinh...

Nghể răm.

Nghể răm.

Lưu ý:

Những người gầy khô, thường nóng và thể lực yếu không nên dùng. Phụ nữ trước khi hành kinh, nếu uống nhiều nước rau răm thì làm kéo dài chu kỳ kinh nguyệt hoặc làm bế kinh, đang khi hành kinh mà ăn rau răm thì dễ sinh rong huyết.

Phân biệt với cây nghể răm có tên khoa học là Polygonum hydropiper, họ rau răm. Cây mọc hoang nơi ẩm thấp. Lá gần giống rau răm. Cây nghể răm thơm, vị cay nồng hơn rau răm, có chứa hoạt chất chính là antraquinon, rutin và các flavon. Nghể răm dùng trị các chứng xuất huyết (nôn ra máu, xuất huyết dạ dày, trĩ, rong huyết sản khoa…). Có nơi nhân dân thường hái ngọn non nghể răm ăn như rau sống với công dụng nhuận tràng.

Như vậy, rau răm và nghể răm không được tuỳ tiện thay thế cho nhau. Theo y văn của đông tây thì rau răm hoạt huyết còn nghể răm thì cầm máu (chỉ huyết).

BS. Phó Thuần Hương

Các loài tầm gửi và tác dụng chữa bệnh

Bộ phận dùng làm thuốc của tầm gửi là cả cây, trừ rễ, thu hái khi cây chưa ra hoa. Đem cây về cắt ngắn, phơi trong râm mát hoặc sấy nhẹ cho khô. Khi dùng có thể tẩm rượu, sao qua. Dược liệu có tác dụng lợi khí huyết, giảm đau nhức xương khớp do phong thấp hoặc do chấn thương, trị tăng huyết áp, rối loạn tâm thần, an thai, lợi sữa... Trong y học hiện đại, tầm gửi có tác dụng chống viêm, giảm đau, chống ôxy hóa và bảo vệ gan... Dựa vào cây chủ nó ký sinh mà đặt tên riêng cho từng loài:

Tầm gửi cây dâu: là loại thông dụng hơn cả, với tên thuốc là tang ký sinh.

Tang ký sinh có vị đắng, tính bình, không độc. Có tác dụng bổ gan, thận, mạnh gân cốt, an thai. Theo tài liệu nước ngoài, tang ký sinh là thuốc kích thích sự tạo máu, điều trị thiếu máu và chứng chảy máu ở phụ nữ mang thai và sau sinh.

Dùng riêng tang ký sinh: sao vàng (12-16g) sắc uống hoặc để tươi (30g) giã nát, lọc lấy nước, uống vào lúc đói.

Tang ký sinh phối hợp với các vị thuốc khác để điều trị trong những trường hợp sau:

Chữa đau lưng, tay chân tê bại: Tang ký sinh 16g, cẩu tích 12g, ngưu tất 12g. Sắc uống trong ngày.

Chữa ho ra máu: Tang ký sinh 16g, thài lài tía 16g, rễ chuối hột 10g, rễ cỏ tranh 10g, thái nhỏ. Sắc uống.

Chữa đau bụng, động thai: Tang ký sinh 16g, cao ban long 10g, nướng cho thơm, lá ngải cứu 10g. Sắc uống 2-3 lần trong ngày.

Chữa tắc tia sữa: Tang ký sinh 16g, ngưu tất 10g. Sắc với 400ml nước còn 100ml, uống làm 2 lần trong ngày.

Trị chứng tăng huyết áp: Tang ký sinh 32g, thạch quyết minh 20g, thiên ma 6g, câu đằng 16g, chi tử 8g, hoàng cầm 12g, đỗ trọng 14g, phục linh 12g, ngưu tất 12g, ích mẫu 16g. Nếu nhức đầu thêm cúc hoa vàng 12g, mạn kinh tử 12g. Nếu mất ngủ, khó ngủ, ngủ ít thêm toan táo nhân 8g, bá tử nhân 8g. Sắc uống làm 2 lần, uống trong ngày.

Chữa đau thần kinh tọa, thuốc bổ huyết, ích thận: Tang ký sinh 18g, độc hoạt 9g, tần cửu 9g, phòng phong 9g, đương quy 9g, bạch thược 9g, đỗ trọng 9g, ngưu tất 12g, tế tân 3g, sinh địa 15g; đảng sâm 12g, phục linh 12g; nhục quế 1,5g, cam thảo 6g. Sắc uống ngày một thang, chia làm 3 lần, uống trước bữa ăn.

Tầm gửi có rất nhiều tác dụng chữa bệnh.

Tầm gửi có rất nhiều tác dụng chữa bệnh.

Tầm gửi cây chanh

Chữa ho khan, ho có đờm: Sao chế như tang ký sinh phối hợp với lá táo, sao vàng, sắc với 200ml, còn 50ml, uống làm 2 lần trong ngày.

Tầm gửi cây mít dùng riêng hoặc phối hợp với cỏ sữa lá nhỏ, sắc uống, có tác dụng tăng tiết sữa.

Tầm gửi cây táo phối hợp với củ sả, củ chuối hột thái nhỏ, sao vàng sắc uống chữa kiết lỵ ra máu.

Tầm gửi cây xoan sắc uống chữa bệnh đường ruột, kiết lỵ, táo bón.

Tầm gửi cây cúc tần cho hạt là vị thuốc thỏ ty tử tác dụng bổ thận tráng dương, chữa di tinh, liệt dương: hạt tơ hồng (thỏ ty tử) 8g, thục địa 16g, lục giác giao 12g, đỗ trọng 12g, kỷ tử 10g, nhục quế 10g, sơn thù du 8g, phụ tử chế 6g, đương quy 8g. Sắc uống ngày một thang.

Tầm gửi cây gạo phối hợp với tầm gửi cây chanh, vỏ cây lai: sao vàng, hạ thổ, sắc uống chữa động kinh. Phối hợp với xương quạ đen sắc uống chữa hen suyễn.

Tầm gửi cây nhót sắc uống chữa tiêu chảy.

Tầm gửi cây hồi nấu nước uống thay trà, chữa ho.

Tầm gửi cây đại bi sắc uống chữa viêm gan, sưng phổi.

Tầm gửi cây đào nấu lấy nước đặc rồi chấm vào vết thương trị bệnh ngoài da, dị ứng, mẩn ngứa.

Tầm gửi cây mận, cây roi, cây sung giã nát cùng với lá gấc, nhựa củ nâu, gạch non, tán vụn, dàn mỏng trên vải xô đắp băng vào nơi tổn thương chữa bong gân, sai khớp.

Tầm gửi cây quýt sắc uống chữa ho.

Tầm gửi cây khế giã nhỏ, trộn với nước vo gạo, hơ nóng, đắp chữa bong gân. Nếu sao vàng chữa ho gà, sốt rét; phối hợp với tầm gửi cây ruối, 20g, rau má 20g, lá bạc hà 10g, lá hẹ 10g. Sắc uống chữa ho, hen sữa ở trẻ em.

Tầm gửi là cây thuốc không độc, nhưng do nó sống bám vào cây khác lại thọc sâu rễ mút vào trong nuôi sống cơ thể mình. Do vậy nếu cây chủ là cây có độc tính như lim, trúc đào, thông thiên... thì các bộ phận của tầm gửi đều mang chất độc của cây chủ, tránh dùng tầm gửi ở những cây độc này.

DS. Mai Thu Thủy

Đẩy lùi sỏi mật nhờ cách đơn giản mà hiệu quả

Sỏi mật chủ yếu xuất hiện nhiều ở người trưởng thành, tuổi càng cao khả năng bị sỏi mật càng tăng; tỉ lệ nữ giới bị sỏi mật cao hơn so với nam giới.

Tình trạng bị sỏi mật tức là đường dẫn mật có sỏi. Đường dẫn mật bao gồm các đường mật trong và ngoài gan, ống mật chủ và túi mật. Túi mật thì có cổ và thân. Một người có thể bị sỏi mật ở một hoặc nhiều vị trí khác nhau của đường mật. Nếu không chữa trị kịp thời, sỏi mật có thể để lại nhiều biến chứng nguy hiểm.

Hiện nay, nhằm giúp đẩy lùi sỏi mật hiệu quả hạn chế các biến chứng ảnh hưởng đến sức khoẻ thì đầu tiên bạn cần thay đổi thói quen xấu. Tiếp đến là chọn phương pháp hỗ trợ điều trị thích hợp.

Sỏi mật gây nên những biến chứng nguy hiểm ảnh hưởng đến sức khỏe ( Ảnh minh họa)

Thay đổi thói quen tốt giúp hạn chế sỏi mật

Sỏi mật hình thành phần lớn bắt nguồn từ chính những thói quen sinh hoạt hàng ngày của bạn. Một số thói quen xấu bạn nên thay đổi tốt cho sức khỏe như:

- Uống nước nhiều cả ngày: đặc biệt với những ai đã có tiền sử bị sỏi mật, sỏi thận thì bác sĩ thường khuyên bạn nên uống khoảng 2-3 lít nước mỗi ngày. Uống nhiều nước giúp cơ thể loại bỏ chất cặn bã, làm dung môi và môi trường cho các phản ứng sinh hoá trong cơ thể, là thành phần cơ bản cấu tạo nên tế bào. Uống nhiều nước và chia đều trong ngày giúp hạn chế nguy cơ sỏi hình thành và là sự lựa chọn tốt nhất cho cơ thể.

- Không bỏ bữa sáng: rất nhiều người vẫn còn làm lơ việc ăn sáng, điều này tưởng chừng như vô hại nhưng lại là nguyên nhân chủ yếu gây nên bệnh sỏi mật và sỏi thận. Trải qua một đêm dài nghỉ ngơi và khi thức giấc cơ thể cần bổ sung năng lượng. Túi mật sẽ bài tiết dịch mật vào buổi sáng nhằm chuẩn bị cho việc tiêu hoá thức ăn. Nếu bạn không ăn sáng thì không có thức ăn để tiêu hoá dẫn đến dịch mật ở trong túi mật lâu hơn và gây nên tình trạng tích tụ trong túi mật, đường ruột. Dịch mật kết hợp với cholesterol có trong túi mật tiết ra dễ hình thành sỏi mật. Chính vì thế, việc tạo thói quen ăn sáng mỗi ngày giúp giảm nguy cơ bị sỏi mật.

- Thường xuyên vận động: việc lười vận động cũng có thể gây nên sỏi. Các chuyên gia khuyến cáo việc ít vận động sẽ hạn chế khả năng hấp thụ canxi của cơ thể, khiến lượng canxi trong nước tiểu tăng lên dẫn đến việc hình thành sỏi thận hoặc sỏi đường tiết niệu. Thành bụng trong cơ thể dễ bị hiện tượng lỏng lẻo, nội tạng bị sa gây chèn ép ống mật làm cho dịch mật không bài tiết được, điều này gây tích tụ trong ống dẫn mật từ đó hình thành sỏi mật. Chính vì thế việc thường xuyên vận động không chỉ giúp cơ thể khỏe mạnh và ngăn ngừa sỏi mật hình thành, béo phì và nhiều bệnh khác. Tốt nhất mỗi ngày bạn nên vận động ít nhất 30 phút, không nên ngồi lâu một chỗ quá 2 tiếng.

- Hạn chế ăn quá nhiều thức ăn chứa dầu mỡ: cholesterol là nguyên nhân chính dẫn đến sự hình thành của sỏi mật. Việc ăn quá nhiều thực phẩm giàu protit và chất béo sẽ dẫn đến lượng cholesterol trong dịch mật tăng lên và hình thành sỏi. Bạn nên tập cho mình thói quen ăn uống bổ sung nhiều chất xơ, hạn chế hàm lượng cholesterol từ thực phẩm. Một số thực phẩm giàu cholesterol bạn nên tránh như: mỡ động vật, nội tạng động vật, trứng cá, gạch cua, lòng đỏ trứng…. Xây dựng thực đơn đầy đủ hoa quả tươi và các thực phẩm có tác dụng tiêu giảm lượng cholesterol như: tỏi, cam, chanh, hành tây, mộc nhĩ đen….

Kết hợp với sự thay đổi thói quen hàng ngày việc tìm phương pháp giúp hỗ trợ điều trị sỏi mật hiệu quả là cần thiết.

Thảo dược thiên nhiên giúp hạn chế các biến chứng do sỏi gây nên

Lựa chọn tốt cho việc hỗ trợ điều trị sỏi mật

Một số thành phần thảo dược có thể giúp cải thiện sức khỏe và hạn chế các biến chứng cho sỏi mật gây nên, giúp hỗ trợ điều trị sỏi mật từ căn nguyên thông qua việc điều chỉnh sản xuất và sử dụng cholesterol như:

- Trái Sung: trong trái sung chứa đường glucose, saccarose; acid quinic, shikimic; các nguyên tố vi lượng (canxi, photpho, kali…) và một số vitamin (C, B1…). Nghiên cứu cho thấy, trái sung có tác dụng nhuận tràng, hạ huyết áp và phòng chống ung thư. Đặc biệt, một trong những công dụng của trái sung mà ít ai biết đến là hỗ trợ điều trị bệnh sỏi mật.

- Kim tiền thảo: Theo y học cổ truyền, kim tiền thảo vị ngọt, tính bình, có tác dụng thanh nhiệt, lợi thấp, lợi niệu thông lâm, tiêu thũng bài thạch. Thảo dược này thường được dùng để chữa các chứng bệnh viêm đường tiết niệu, sỏi thận, sỏi mật, phù thũng do viêm thận, hoàng đản (vàng da)....

- Kim ngân hoa: Kim ngân hoa có công dụng kháng khuẩn, chống viêm, hạ cholesterol trong máu, tăng bài tiết dịch vị và mật, lợi tiểu... Là loại thảo dược dễ tìm giúp hỗ trợ điều trị các bệnh sỏi. Tuy nhiên, khi kết hợp với trái sung, nhân trần, kim tiền thảo... hiệu quả tán sỏi sẽ tăng, cải thiện triệu chứng và chức năng gan - mật - thận của người bệnh. Nhất là với trường hợp sỏi quá cứng khó điều trị, bệnh nhân từng phẫu thuật lấy sỏi muốn phòng ngừa tái phát.

Sự kết hợp hơn 25 thành phần thảo dược tự nhiên của Lương Y Phan Văn Sang chính là phương pháp hỗ trợ điều trị sỏi mật, sỏi thận, sỏi gan hiệu quả. Đặc biệt, đây là phương pháp giúp ngăn ngừa sỏi thận, sỏi mật, sỏi gan tái phát trở lại cũng như phòng ngừa các biến chứng do sỏi gây nên tạo cuộc sống thoải mái và sức khỏe tốt hơn cho người bệnh.

Sỏi Mật Trái Sung được chiết xuất từ Trái Sung, Uất Kim, Kim Tiền Thảo, Nấm Linh chi, Kim Ngân Hoa... Sỏi Mật Trái Sung dùng cho các trường hợp bị sỏi mật, sỏi gan, sỏi thận, bùn mật và các trường hợp đã phẫu thuật lấy sỏi, tán sỏi.

Tham khảo những người bệnh đã hỗ trợ điều trị hết sỏi:Tại đây

Thuốc hay từ cây tre, trúc

Tre trúc không chỉ là loài cây quen thuộc với mỗi người dân Việt Nam. Các bộ phận của nó còn được dùng làm thuốc chữa nhiều bệnh hiệu quả, đặc biệt là trúc nhự (cật tre trúc non) và trúc lịch (nước ép tre trúc non).

Theo Đông y, trúc nhự vị ngọt hơi đắng, tính mát; vào vị đởm; trúc lịch vị ngọt, tính lạnh; vào kinh tâm vị. Trúc nhự và trúc lịch tác dụng thanh nhiệt hoá đàm, thanh vị chỉ ẩu, lương huyết chỉ huyết. Dùng cho các trường hợp nôn ói mửa, nấc cụt, ho suyễn, thổ huyết chảy máu cam; nôn ói do nhiễm độc thai nghén thời kỳ đầu, động thai. Liều dùng: 6 - 10g khô, 30 - 60g tươi; bằng cách nấu sắc, hãm. Sau đây là cách dùng trúc nhự và trúc lịch làm thuốc:

Viêm đại tràng mạn tính thể táo: trúc nhự 8g, sài hồ 12g, đương quy 12g, nhân trần 12g, chi tử (sao) 12g, vỏ cây khế 12g, đảng sâm 12g, chỉ thực 12g, thương truật 12g, bạch thược 12g, táo nhân (sao đen) 12g, cúc hoa 8g, bạc hà 6g. Sắc uống ngày 1 thang.

Chữa viêm thanh quản nói không ra tiếng: trúc nhự 12g, lá tre 12g, tang bạch bì 12g, thổ bối mẫu 8g, thanh bì 8g, cát cánh 8g, nam tinh chế 6g, gừng 4g. Sắc uống.

Chữa viêm phổi giai đoạn đầu: trúc nhự 8g, kim ngân 15g, sài đất 15g, bồ công anh 15g, kinh giới 15g, cỏ mần trầu 15g, tang bạch bì 12g, hạnh nhân 8g. Sắc uống.

Chữa hen phế quản khi đang lên cơn hen: trúc lịch 20ml, tang bạch bì 20g, hạnh nhân 12g, hoàng cầm 12g, bán hạ chế 8g, ma hoàng 6g, cam thảo 4g. Sắc uống ngày 1 thang.

Trị nôn khi mang thai: trúc nhự 6g, đẳng sâm 16g, bạch truật 12g, í dĩ 12g, trần bì 8g, bán hạ chế 8g, gừng tươi 3 lát. Sắc uống trong ngày.

Cháo trúc nhự: trúc nhự tươi 30g, gạo tẻ 50g. Trúc nhự nấu lấy nước, đem nước nấu cháo gạo (cháo loãng), cho ăn ít một dần dần. Dùng cho các trường hợp viêm dạ dày ruột nôn ói (vị nhiệt ẩu thổ).

Quất nhự ẩm: trúc nhự tươi 30g, quất bì tươi hoặc trần bì tươi 30g, mứt hồng 30g, chỉ xác 8g, gừng tươi 4g. Các dược liệu nấu lấy nước (bỏ bã) thêm đường cho uống. Dùng cho phụ nữ nhiễm độc thai nghén nôn ói; hẹp môn vị do viêm nề gây hẹp sau phẫu thuật vùng bụng, có triệu chứng nôn mửa, nôn ra thức ăn.

TS. Nguyễn Đức Quang

Thuốc Nam trị giời leo

Điều trị theo Tây y gồm có thuốc kháng virút (nên bắt đầu điều trị sớm trong vòng 72 giờ phát bệnh),

Theo Đông y, bệnh zona nằm trong phạm trù bệnh ngoại khoa. Trong các y văn cổ có ghi lại, bệnh zona có rất nhiều tên gọi khác nhau như: hỏa đái sang, triền yên hỏa đơn, tri thù sang hay xà xuyên sang… Những tên gọi này được đặt theo vị trí, đặc điểm và hình thái của bệnh zona.

Ngoài điều trị thuốc uống, châm cứu thì Đông y còn thuốc đắp ngoài da cũng rất hiệu quả, nhất là những cây thuốc Nam có sẵn trong vườn nhà.

Rau sam

Rau sam có thể sử dụng làm thức ăn và làm thuốc chữa bệnh. Sách Nam dược thần hiệu - Tuệ Tĩnh cho rằng rau sam vị chua, không độc, chữa trị ghẻ lở, sát khuẩn, tiêu sưng, trị mắt mờ, hòn cục trong bụng và lỵ. Theo Y học cổ truyền rau sam có vị chua, tính hàn; có tác dụng thanh nhiệt lợi thấp, lương huyết giải độc hữu hiệu.

Thuốc Nam trị giời leo

Có thể áp dụng cách chữa bệnh zona thần kinh bằng rau sam như sau: chỉ cần rửa sạch giã nát vắt lấy nước cốt, thêm một chút băng phiến hoặc sáp ong trộn đều, thoa lên khu vực da bị zona, 3 - 4 lần/ ngày. Có thể sử dụng lá đại bi để thay thế băng phiến.

Hoặc bệnh nhân có thể sắc lá rau sam với ý dĩ nấu lấy nước uống trị bệnh hiệu quả.

Lá sung

Sung có vị ngọt, hơi chát tính mát; có tác dụng thông huyết, lợi tiểu, chỉ thống, tiêu đàm, tiêu thũng, tiêu viêm, sát trùng, bổ máu.

Thuốc Nam trị giời leo

Dùng lá sung non giã nhỏ xát vào sẽ làm bong vảy (Nam dược thần hiệu). Cách làm rất đơn giản, chỉ cần lấy lá sung và rửa sạch, cắt nhỏ, thêm 1 chút dấm ăn, đắp lên vùng bị bệnh. Khi thuốc khô lại thay đợt khác. Sau 1 - 2 ngày, những vết zona sẽ khô dần và khỏi hẳn.

Rau dừa nước

Theo y học cổ truyền, rau dừa có vị ngọt nhạt, tính hàn; có tác dụng thanh nhiệt giải độc lợi tiểu, nhuận trường, tiêu thũng. Thường dùng trị phù thũng, tiểu đục, tiểu buốt, tiểu rắt, tiểu ra máu, sỏi mật, sỏi tiết niệu, ho khan, nóng sốt, lên ban sởi, lở ngứa, mụn nhọt, ápxe… dùng dưới dạng cây tươi hoặc phơi khô. Hãy lấy rau dừa nước tươi, rửa sạch và giã nát vắt lấy nước cốt, sau đó trộn với bột gạo nếp và đắp vào nơi bị zona.

Lá cây xấu hổ

Cây xấu hổ hay còn gọi là cây mắc cỡ, cây trinh nữ, cây thẹn, hàm tu thả. Cây xấu hổ là cây thuốc quý đã được nghiên cứu nhiều cho thấy có tác dụng giảm đau, giải độc và ức chế thần kinh trung ương.

Thuốc Nam trị giời leo

Để chữa zona chỉ cần lấy một nắm lá cây xấu hổ, giã nát, đắp vào chỗ bị bệnh, chỉ sau 2 - 3 ngày sẽ có kết quả.

Mơ lông

Theo y học cổ truyền, lá mơ lông vị chua, tính bình, có công năng trừ phong hoạt huyết, chỉ thống giải độc, tiêu thực đạo trệ, trừ thấp tiêu thũng.

Chỉ cần dùng cành lá mơ leo, giã nát đắp vào vùng bị bệnh. Thực hiện 2 - 3 lần/ngày. Ngoài ra phải đảm bảo giữ vệ sinh sạch sẽ cho những vùng da này để tránh nhiễm trùng.

Thuốc Nam trị giời leo

Tuy nhiên những vị thuốc Đông y chữa bệnh zona thần kinh này chỉ để tham khảo, khi bệnh nhẹ chưa có bội nhiễm. Người bệnh nên đến các cơ sở y tế để được thăm khám và điều trị đầy đủ.

Bệnh nhân bị zona thần kinh nên tránh ăn đồ cay nóng, đồ cay và đồ uống có cồn, chất kích thích. Bệnh nhân nên uống nhiều nước lọc và nước cam chanh, ăn nhiều rau quả giàu vitamin C để tăng sức đề kháng, hiệu quả trị bệnh tốt hơn.

BS. LÊ THỊ NGỌC DIÊP

Dùng khoai lang trị bệnh

Cây khoai lang tên khoa học là Ipomoea batatas.

Thành phần hóa học trong củ khoai lang chứa 24,6% tinh bột, 4,17% glucose. Khi còn tươi, củ chứa 1,3% protein 0,1% chất béo, các diastase, tro có Mn, Ca, Cu, các vitamin A, B, C, 4,24% tanin, 1,375% pentosan. Khi đã phơi ở chỗ thoáng mát, trong củ có inosit, gôm, dextrin, axítchlorogenic, phytosterol, carotin, adenin, betain, cholin. Dây khoai lang cũng chứa adenin, betain, cholin. Ngọn dây khoai lang đỏ có một chất gần giống insulin. Lá chứa chất nhựa tẩy (1,95 - 1,97%).

Đông y cho rằng củ khoai lang có vị ngọt, tính bình, đi vào hai kinh tỳ và thận. Có tác dụng nhuận tràng, bổ hư tổn, ích khí lực, mạnh tỳ thận. Tác dụng bồi bổ cơ thể, ích khí, cường thân, kiện vị, tiêu viêm, thanh can, lợi mật, sáng mắt; chữa vàng da, ung nhọt, viêm tuyến vú, phụ nữ kinh nguyệt không đều (dùng trước kỳ kinh), nam giới di tinh, trẻ em cam tích, lỵ… Có công dụng để trị lỵ mới phát; đại tiện táo bón; di tinh, đái đục; phụ nữ kinh nguyệt không đều, loạn kỳ, máu xấu; cúm mùa hè, sốt nóng li bì, thân thể đau mỏi.

Cũng theo Đông y thì rau lang tính bình, vị ngọt, không độc, bổ hư tổn, ích khí lực, kiện tỳ vị, tư thận âm. Chữa tỳ hư, kém ăn, thận âm bất túc.

Dưới đây là những cách dùng khoai lang trị bệnh:

Chữa táo bón: ăn khoai luộc đơn thuần hoặc chấm mật, chấm vừng, ăn với cà pháo cả quả hoặc thái chỉ nghiền cùng khoai thành khối. Có thể uống nước luộc khoai (khoai phải rửa sạch). Hay nấu chè khoai tươi hoặc khô với vừng và ít hoa quế. Hoặc dùng nước cốt luộc khoai tươi hay khô đã giã nát, nếu bị trĩ thì uống hàng tháng nước cất này vào buổi sáng. Ăn bánh làm bằng khoai lang với vừng hoặc dừa. Khoai lang tươi xào dầu vừng. Canh rau lang. Rau lang luộc chấm nước mắm gừng tỏi hoặc nước sốt cà chua, chấm vừng lạc (giã nhỏ). Nên làm sẵn bột khoai khô với vừng tán mịn, quấy uống mỗi sáng với nước đường.

Phòng chống béo phì: ăn khoai và rau lang luộc. Hoặc ăn chế độ 1/2 gạo, 1/2 khoai riêng rẽ, hoặc độn với nhau nấu cơm, cháo, bánh...

Trị chứng biếng ăn ở trẻ: cho ăn dặm bằng bột khoai lang vàng đỏ quấy với bột, sữa.

Chữa cam tích trẻ em: lá khoai lang non 100g, màng mề gà 2g. Sắc uống hoặc quấy với bột sữa.

Trị thiếu sữa: lá khoai lang tươi non 250g, thịt lợn 200g thái chỉ. Xào chín mềm, thêm gia vị.

Viêm tuyến vú: khoai lang trắng gọt vỏ, giã nhuyễn đắp lên vú, có thể phối hợp với tỏi giã nhuyễn để đắp.

Thận âm hư, đau lưng mỏi gối: lá khoai lang tươi non 30g, mai rùa 30g, sắc kỹ lấy nước uống.

Chữa quáng gà: lá khoai lang non xào gan gà hoặc gan lợn.

Chữa viêm dạ dày thiểu toan: lấy nước cốt khoai lang sắc uống ngày 3 lần. Mỗi lần một chén, uống liền 3 tuần, nghỉ 1 tuần có thể uống tiếp.

Say tàu xe: củ khoai lang tươi nhai nuốt cả nước và bã.

Chữa ngộ độc sắn: khoai lang gọt vỏ giã nát thêm nước, vắt lấy nước cốt. Uống cách nhau 1/2 giờ.

Một số điểm lưu ý khi dùng khoai lang:

1. Để có tác dụng bổ dưỡng, nên ăn khoai vỏ đỏ ruột vàng. Để giải cảm và chữa táo bón phải dùng khoai vỏ trắng ruột trắng.

2. Không nên dùng khoai lang (củ và rau) lúc quá đói vì khi đó đường huyết đã thấp, lại làm hạ thêm gây mệt mỏi.

3. Không ăn thường xuyên rau lang vì chứa nhiều canxi có thể gây sỏi thận.

4. Nên ăn kèm đạm động vật, thực vật để cân bằng thành phần dưỡng chất.

5. Trong khoai lang có chất đường, nếu ăn nhiều, nhất là khi đói sẽ gây tăng tiết dịch vị làm nóng ruột, ợ chua, sinh hơi trướng bụng. Để tránh tình trạng này khoai phải được nấu, luộc, nướng thật chín hoặc cho thêm ít rượu vào nấu để phá hủy chất men. Nếu bị đầy bụng, có thể uống nước gừng để chữa.

6. Vỏ khoai lang chứa nhiều vitamin và khoáng chất. Do đó phải bảo vệ phần vỏ không bị xây xát, không gọt vỏ nếu không cần thiết. Vỏ còn giúp bảo vệ dưỡng chất bên trong, vì vậy khi luộc khoai nên để cả vỏ (đã rửa sạch).

7. Bảo quản khoai ở nơi sạch sẽ, khô ráo, thoáng mát, không có chuột bọ và chỉ nên dùng trong một tuần.

8. Phải bỏ hết khoai hà (sùng), khoai đã có mầm và vỏ xanh chứa chất độc.

9. Khi luộc rau lang để ăn và chữa bệnh, nên lấy nước thứ hai vì nước thứ nhất thường chát và hăng.

BS. HOÀNG XU N ĐẠI


Thuốc từ cây dứa dại

Dứa dại còn gọi là dứa gai, dứa gỗ. Cây mọc hoang ở vùng ven biển, bìa rừng và được trồng làm hàng rào ở vườn nhà, nương rẫy. Toàn bộ cây dứa dại gồm lá, quả, hạt và rễ đều được dùng làm thuốc. Quả thu hái phơi khô hoặc dùng tươi. Rễ đem thái mỏng phơi, sấy khô dùng dần (rễ non chưa bám đất dùng làm thuốc tốt hơn rễ ở dưới đất).

Theo y học cổ truyền thì lá có vị đắng, cay, thơm, có tác dụng diệt khuẩn; rễ có vị ngọt nhạt, tính mát, có tác dụng giải nhiệt, giải độc, tiêu viêm, lợi tiểu.

Lá dứa dại

Chữa cảm nóng, nhức đầu: Lá dứa dại 30g, rau má 40g, cỏ mần trầu 20g, lá tre 20g, lá sắn dây 20g, lá duối 20g. Sắc uống ngày 2 lần.

Chữa cảm lạnh: Lá dứa dại 30g; gừng, hành, tỏi mỗi vị 20g. Sắc uống, uống nóng. Uống xong, đắp chăn kín cho ra mồ hôi.

Chữa thấp khớp: Lá dứa dại 30g, củ dứa dại 20g, cà gai leo 20g, cỏ xước 40g, lá lốt 20g, bồ công anh 20g. Sắc uống.

Chữa viêm da, mẩn ngứa: Lá dứa dại 20 - 30g, rau má 20g, cỏ chỉ thiên 20g, bồ công anh 20g, vòi voi 20g, sâm đại hành 40g, dây tơ hồng xanh 40g. Sắc uống.

Rễ dứa dại

Chữa mất ngủ, viêm gan, xơ gan cổ trướng: Rễ dứa dại sắc uống, ngày 2 lần, mỗi lần 30g.

Chữa tiểu dắt, tiểu ít, nước tiểu vàng, nóng: Rễ dứa dại 20g, rau dừa nước 20g, râu ngô 20g, trần bì 6g, mã đề 8g, cỏ mần chầu 6g, cam thảo nam 6g. Sắc uống. Chia 2 lần, uống trong ngày.

Thông tiểu, trị tiểu ra sỏi: Rễ dứa dại 12g, đọt non dứa dại 20g, rễ dứa thơm 15g. Sắc uống.

Trị viêm đường tiết niệu: Rễ dứa dại 16g, ý dĩ nhân 16g, trạch tả 12g, kim ngân hoa 16g, cam thảo nam 12g. Sắc uống.

Chữa phù thũng: Rễ dứa dại 8g rễ, vỏ cây đại (sao vàng), rễ si, rễ cau non, hương nhu, tía tô, hoắc hương đều 8g, hậu phác 12g. Sắc uống.

Quả dứa dại

Thuốc giải nhiệt và trị ho: Quả dứa dại tươi 200g (quả khô 50g) sắc uống.

Chữa xơ gan, cổ trướng: Quả dứa dại 200g; thân cây ráy gai 200g, vỏ cây quao nước, vỏ cây vọng cách, lá trâm bầu, lá cối xay, rễ cỏ xước, mỗi vị 50g. Sắc uống.

Chữa viêm gan mạn tính: Quả dứa dại 100g, chó đẻ răng cưa 50g. Sắc uống.

Hạt dứa dại

Chữa trĩ, viêm tinh hoàn: Hạt dứa dại 60g, sắc uống.

Trị sỏi thận: Hạt dứa dại 15g, hạt chuối hột 12g, kim tiền thảo 18g. Sắc uống.

Đọt non dứa dại:

Chữa sỏi thận: Đọt non dứa dại 20g, ngải cứu 20g, cỏ bợ 30g. Rửa sạch, giã nát, lọc lấy nước, có thể thêm đường cho dễ uống.

Chữa tiểu dắt, tiểu buốt có máu: Đọt non dứa dại 20g, mầm rễ cỏ gừng 20g. Sắc uống trong ngày.

Chữa đinh râu: Đọt non dứa dại, lá đinh hương, mỗi vị 40g, giã nát, đắp ngoài.

DS. Mai Thu Thủy

Chữa cảm mạo, ho, sốt nóng với cây đại ngải

Cây đại ngải còn có tên khác là đại bi, từ bi xanh, bơ nạt, người Tày gọi là phặc phả, người Thái gọi là co nát. Là loại cây nhỏ, cao khoảng...