Sunday, December 31, 2000

Thuốc từ cây dứa dại

Dứa dại còn gọi là dứa gai, dứa gỗ. Cây mọc hoang ở vùng ven biển, bìa rừng và được trồng làm hàng rào ở vườn nhà, nương rẫy. Toàn bộ cây dứa dại gồm lá, quả, hạt và rễ đều được dùng làm thuốc. Quả thu hái phơi khô hoặc dùng tươi. Rễ đem thái mỏng phơi, sấy khô dùng dần (rễ non chưa bám đất dùng làm thuốc tốt hơn rễ ở dưới đất).

Theo y học cổ truyền thì lá có vị đắng, cay, thơm, có tác dụng diệt khuẩn; rễ có vị ngọt nhạt, tính mát, có tác dụng giải nhiệt, giải độc, tiêu viêm, lợi tiểu.

Lá dứa dại

Chữa cảm nóng, nhức đầu: Lá dứa dại 30g, rau má 40g, cỏ mần trầu 20g, lá tre 20g, lá sắn dây 20g, lá duối 20g. Sắc uống ngày 2 lần.

Chữa cảm lạnh: Lá dứa dại 30g; gừng, hành, tỏi mỗi vị 20g. Sắc uống, uống nóng. Uống xong, đắp chăn kín cho ra mồ hôi.

Chữa thấp khớp: Lá dứa dại 30g, củ dứa dại 20g, cà gai leo 20g, cỏ xước 40g, lá lốt 20g, bồ công anh 20g. Sắc uống.

Chữa viêm da, mẩn ngứa: Lá dứa dại 20 - 30g, rau má 20g, cỏ chỉ thiên 20g, bồ công anh 20g, vòi voi 20g, sâm đại hành 40g, dây tơ hồng xanh 40g. Sắc uống.

Rễ dứa dại

Chữa mất ngủ, viêm gan, xơ gan cổ trướng: Rễ dứa dại sắc uống, ngày 2 lần, mỗi lần 30g.

Chữa tiểu dắt, tiểu ít, nước tiểu vàng, nóng: Rễ dứa dại 20g, rau dừa nước 20g, râu ngô 20g, trần bì 6g, mã đề 8g, cỏ mần chầu 6g, cam thảo nam 6g. Sắc uống. Chia 2 lần, uống trong ngày.

Thông tiểu, trị tiểu ra sỏi: Rễ dứa dại 12g, đọt non dứa dại 20g, rễ dứa thơm 15g. Sắc uống.

Trị viêm đường tiết niệu: Rễ dứa dại 16g, ý dĩ nhân 16g, trạch tả 12g, kim ngân hoa 16g, cam thảo nam 12g. Sắc uống.

Chữa phù thũng: Rễ dứa dại 8g rễ, vỏ cây đại (sao vàng), rễ si, rễ cau non, hương nhu, tía tô, hoắc hương đều 8g, hậu phác 12g. Sắc uống.

Quả dứa dại

Thuốc giải nhiệt và trị ho: Quả dứa dại tươi 200g (quả khô 50g) sắc uống.

Chữa xơ gan, cổ trướng: Quả dứa dại 200g; thân cây ráy gai 200g, vỏ cây quao nước, vỏ cây vọng cách, lá trâm bầu, lá cối xay, rễ cỏ xước, mỗi vị 50g. Sắc uống.

Chữa viêm gan mạn tính: Quả dứa dại 100g, chó đẻ răng cưa 50g. Sắc uống.

Hạt dứa dại

Chữa trĩ, viêm tinh hoàn: Hạt dứa dại 60g, sắc uống.

Trị sỏi thận: Hạt dứa dại 15g, hạt chuối hột 12g, kim tiền thảo 18g. Sắc uống.

Đọt non dứa dại:

Chữa sỏi thận: Đọt non dứa dại 20g, ngải cứu 20g, cỏ bợ 30g. Rửa sạch, giã nát, lọc lấy nước, có thể thêm đường cho dễ uống.

Chữa tiểu dắt, tiểu buốt có máu: Đọt non dứa dại 20g, mầm rễ cỏ gừng 20g. Sắc uống trong ngày.

Chữa đinh râu: Đọt non dứa dại, lá đinh hương, mỗi vị 40g, giã nát, đắp ngoài.

DS. Mai Thu Thủy

Côn bố giúp tiêu u

Côn bố là một loại tảo dẹt ở biển. Côn bố có tên khoa học là Laminasia japonica Aresch. Vào mùa hạ và mùa thu, người ta vớt côn bố ở biển, loại bỏ tạp chất, rửa sạch, cắt nhỏ thành sợi, rồi phơi khô dùng dần. Người ta thấy trong thành phần côn bố có tới 60% hydrat carbon (chủ yếu là: algin, lactosan, pentosan, vitamin, protit và một số chất béo, tro toàn phần trong đó có iốt, kali, sắt và canxi).

Kết quả nghiên cứu của y học hiện đại cho thấy, côn bố có tác dụng tăng cường công năng miễn dịch của cơ thể, cường tim và hạ đường huyết, chống co giật và ngưng tập tiểu cầu, giảm mỡ máu, chống phóng xạ và ung thư.

Theo y học cổ truyền, côn bố có vị mặn, tính hàn, vào kinh tỳ, vị, thận, có tác dụng điều trị chứng lao hạch, bướu cổ, thủy thũng, làm mềm, tiêu u cục hay là chứng đàm kết thành khối, trị viêm đường tiết niệu, sưng đau tinh hoàn...Côn bố là một loại tảo dẹt ở biển.

Côn bố là một loại tảo dẹt ở biển.

Dưới đây là một số bài thuốc để bạn đọc tham khảo và áp dụng trong phòng và chữa bệnh từ côn bố:

Chữa chứng sưng đau hạch lym-phô: Côn bố 10g, huyền sâm 10g, mẫu lệ 15g, hạ khô thảo 15g, cương tằm 5g. Các vị thuốc trên sấy khô, tán bột, ngày uống 2 lần, mỗi lần 8g.

Chữa tuyến giáp trạng sưng to: Côn bố, huyền sâm, bán biên liên, cải rừng tía, mỗi vị 16g, sắc uống.

Chữa trị viêm phế quản mạn tính: Côn bố 10g, sinh khương 3 lát. Sắc uống, có thể thêm đường cho dễ uống.

Hoặc dùng bài: Côn bố 100g, bách bộ 100g, tri mẫu 200g. Các vị thuốc đem sao với mật rồi ngâm với rượu trắng vừa đủ. Sau 10-15 ngày là dùng được, ngày uống 2 lần, mỗi lần 10ml.

Chữa trị đới hạ, tinh hoàn sưng đau: Côn bố 12g, quất hạch 12g, mẫu lệ 12g, tiểu hồi 8g. Sắc uống ngày 1 thang.

Chữa thủy thũng, bướu cổ, khí kết tụ ở bàng quang: Côn bố 60g, hành tươi, gừng tươi, vỏ quýt, hạt tiêu, gia vị vừa đủ, nấu thành canh ăn với cơm gạo tẻ.

Chữa dưới cổ phồng lên túi hơi chắn thành bướu: Côn bố, hải tảo lượng bằng nhau, tán nhỏ, viên với mật hoàn viên, dùng 6g, ngậm nuốt nước.

Lương y: Hoài Vũ

Rau giấp cá trị nhiều bệnh

Giấp cá còn gọi là diếp cá, tên thuốc là ngư tinh thảo. Giấp cá dùng tươi hoặc phơi khô làm thuốc. Bộ phận dùng là phần rau mọc trên mặt đất rửa sạch, bỏ gốc, rễ. Theo nghiên cứu của y học hiện đại, giấp cá chứa tinh dầu bay hơi, có quercetin, quercetrin, flavonoide, các chất kháng khuẩn, lợi tiểu, giảm đau, cầm máu, ức chế huyết tương không xuất ra ngoài, thúc đẩy các tổ chức tế bào chống tái sinh...

Theo Đông y, giấp cá vị cay, chua, tính hàn; lợi về ba kinh, phế, đại trường, bàng quang, có tác dụng thanh nhiệt giải độc, tiêu sưng, lợi niệu, thanh thấp nhiệt ở đại tràng, bàng quang, thanh can sáng mắt. Dùng điều trị các bệnh phế nhiệt, phế ung, phế có mủ, viêm khí quản, ho ra máu, sốt cao, viêm họng, tiết tả, thoát giang, viêm bàng quang, đau mắt đỏ, nhiều dử, mắt viêm nhiễm. Dùng khô 12-20g hoặc dùng tươi 20-40g.

Trị viêm phổi, viêm phế quản, sốt cao: Ngư tinh thảo 16g, hậu phác 12g, liên kiều 16g, tang chi 36g. Sắc uống.

Trị phế ung, phế có mủ, nôn ra máu mủ: Giấp cá, thiên hoa phấn, trắc bách diệp lượng bằng nhau mỗi thứ 20g, sắc uống.

Trị bệnh tả lỵ: Giấp cá 24g, sơn tra thán 8g, sắc lấy nước thêm chút đường để uống đến khi hết bệnh.

Trị các trường hợp trĩ sang: Ngư tinh thảo sắc lấy nước, hòa rượu uống, dùng bã xông rửa nếu có mủ sẽ nhanh vỡ, chưa có mủ thì tự tiêu dùng vài thang liền.

Trường hợp lồi dom, trĩ ngoại: Giấp cá tươi giã nát đắp vào, kết hợp sắc lấy nước xông rửa vết đau.

Chữa mụn nhọt, sưng độc: Giấp cá nghiền thành bột, hòa với mật ong đắp vào vết thương, nếu chưa có mủ thì tiêu, có mủ thì nhanh bài tiết mủ.

Chữa bí tiểu, đái buốt, đái dắt: Ngư tinh thảo, bông mã đề, bạch mao căn, râu ngô, mỗi thứ 12g.

Trị sỏi ở niệu đạo: Ngư tinh thảo 40g, xa tiền tử 20g, kim tiền thảo 40g, sắc uống.

Chữa viêm họng, sốt cao: Ngư tinh thảo 40g sắc đặc, ngậm một lúc rồi uống, ngày 2-3 lần.

Chữa đau mắt đỏ, viêm nhiễm nhiều dử: Giấp cá tươi 30g sắc uống, bã gói vào gạc sạch đắp bên ngoài mắt.

DS. Phạm Đức Dương

Cây vối

Vị đắng, chát, tính mát; vối có tác dụng thanh nhiệt giải biểu, sát trùng, chỉ dương, tiêu trệ. Có tác dụng kiện tỳ, giúp ăn ngon, tiêu hóa tốt, giải nhiệt. Ở nhiều miền quê Việt Nam, mỗi khi ăn một bữa có nhiều thịt, mỡ, người ta thường nấu một nồi nước vối đặc để uống cả ngày. Chất đắng trong vối sẽ kích thích tiết nhiều dịch tiêu hóa, chất tanin bảo vệ niêm mạc ruột, còn chất tinh dầu có tính kháng khuẩn nhưng không hại vi khuẩn có ích trong ruột. Người ta cũng thường phối hợp lá vối với lá hoắc hương làm nước hãm uống lợi tiêu hóa. Theo kinh nghiệm dân gian, lá vối tươi có kết quả trị bệnh cao hơn so với lá vối đã ủ hoặc đã phơi khô.

Lá vối dùng làm thuốc trị viêm da, đầy trướng bụng, tiêu chảy.

Một số bài thuốc chữa bệnh có vối:

Chữa bỏng: Vỏ cây vối cạo bỏ vỏ thô, rửa sạch, giã nát, hòa với nước sôi để nguội, lọc lấy nước, bôi lên khắp chỗ bỏng.

Chữa viêm gan, vàng da: Dùng rễ 200g mỗi ngày, nấu sắc uống.

Chữa viêm da lở ngứa và chốc đầu: Sắc lá vối lấy nước đặc để bôi.

Chữa thấp chẩn cấp và mạn tính: Lá vối tươi 50g, lá kinh giới 50g. Đun sôi kỹ, lấy nước rửa vết loét, kết hợp thuốc mỡ bôi.

Giải độc lá ngón: Lá vối tươi 1 nắm; giã nát, ép lấy nước, thêm ít nước ép lấy nước 2, hợp hai nước cho uống hoặc bơm thẳng vào dạ dày.

Chữa đau bụng, đầy trướng, ăn không tiêu: Vỏ vối 12g, bán hạ chế 8g, cát sâm sao 8g, cam thảo 4g. Sắc uống.

Chữa tiêu chảy:

- Lá vối 5-10g, vỏ rộp cây ổi (hoặc búp ổi) 10g, núm quả chuối tiêu khô 10g. Sắc với 400ml, gạn cô lại còn 100ml, chia uống 2 lần trong ngày.

- Vỏ vối 100g, vỏ sung 100g, lá ổi 100g, lá phèn đen 100g, vỏ cây đại 50g, hạt vải 50g, quế 30g. Sấy khô, tán bột, luyện với hồ làm hoàn bằng hạt đậu xanh. Người lớn uống 2 lần, mỗi lần 12g. Trẻ em tùy tuổi giảm liều.

Chữa bệnh đái tháo đường: Lá vối 20 - 30g. Hãm hoặc sắc uống trong ngày. Người dân vùng Porto Alegre ở Brazil dùng 20g lá vối, 20g lá cây gioi sắc uống thường xuyên để chữa bệnh tiểu đường.

TS. Nguyễn Đức Quang

Hoa lan tiêu chữa đau xương

Hoa lan tiêu còn có tên là tử uy hoa, nữ uy hoa, trụy thai hoa... Là cây có lá kép hình lông chim, hoa nở từ mùa hè kéo dài đến đầu mùa thu, hoa to, đài hoa hình chuông, tràng hoa hình phễu phía trên xẻ thành 5 phiến. Đến mùa đông cây rụng lá, chỉ còn thân trơ ra như những cành củi khô. Cuối mùa xuân cây mới bắt đầu đâm chồi, trên thân cây lại mọc ra những cụm rễ không bám vào đất mà hút lấy hơi nước và các chất dinh dưỡng từ trong không khí để nuôi cây.

Để làm thuốc, người ta thu hái hoa phơi trong bóng râm hoặc sao khô bằng lửa nhỏ để tích trữ dùng dần. Rễ và cành được thu hoạch vào mùa thu, rửa sạch thái phiến, sao thơm.

Hoa lan tiêu.

Một số bài thuốc cụ thể:

Chữa xương khớp đau nhức do thời tiết: Rễ lan tiêu tươi 30g, ngũ gia bì tươi 30g, ngưu tất 9g, quế chi 9g. Tất cả cho vào ấm đổ 550ml nước, sắc còn 250ml, chia 2 lần uống trong ngày, 10 ngày 1 liệu trình.

Trị chứng đau bụng kinh kỳ: Hoa lan tiêu rửa sạch, phơi khô, tán nhỏ uống mỗi lần 4g, ngày 2 lần, uống với 30ml rượu trắng. Uống trước kỳ kinh 15 ngày, 10 ngày 1 liệu trình.

Trị trứng cá đỏ: Hoa lan tiêu 9g, chi tử 9g đem tán nhỏ, trộn đều, cất vào lọ dùng dần. Hàng ngày, sau mỗi bữa ăn uống 6g, chiêu bằng nước ấm,10 ngày 1 liệu trình.

Chữa kinh nguyệt không đều: Hoa lan tiêu 9g, hoa hồng 9g, ích mẫu 15g, đan sâm 15g, hồng hoa 6g. Tất cả cho vào ấm đổ 700ml, sắc còn 250ml chia 2 lần uống trong ngày. Uống lúc thuốc còn ấm, dùng liền 15 ngày. Hoặc: hoa lan tiêu 2 phần, đương quy 1 phần, nghệ đen 1 phần. Tất cả đem sấy khô, tán mịn, trộn đều; ngày uống 2 lần, mỗi lần 6g bột thuốc.

Lưu ý: Những người có thể chất suy nhược, khí huyết hư yếu và phụ nữ có thai không được dùng lan tiêu.

Lương y Nguyễn Hữu

Muồng truổng trị đau nhức xương khớp, viêm gan

Muồng truổng chỉ có ở các tỉnh trung du và miền núi thấp ở Ninh Bình, Hòa Bình, Bắc Giang, Lạng Sơn, Quảng Ninh, Hà Tĩnh, Nghệ An, Thanh Hóa, Thừa Thiên Huế.

Bộ phận dùng là quả, vỏ thân, lá và rễ. Có thể thu hái quanh năm, dùng tươi, hoặc khô. Có thể sắc uống riêng từng bộ phận của cây, hoặc phối hợp chúng với các vị thuốc khác, với liều 30-60g (rễ, vỏ thân tươi), hoặc 6 -12g khô.

Cây muồng truổng trị phong thấp, đau nhức xương khớp; đau cơ, đau xương...

Cây muồng truổng trị phong thấp, đau nhức xương khớp; đau cơ, đau xương...

Theo y học cổ truyền, muồng truổng vị đắng, cay. Tính hơi ấm. Có tác dụng khu phong lợi thấp, lợi thủy, hành khí, hoạt huyết, chỉ thống. Trị viêm gan vàng da, viêm thận phù thũng, phong thấp, đau nhức xương khớp, đau nhức răng, ngã chấn thương, sưng tấy, dị ứng, ngứa lở.

Trị phong thấp, đau nhức xương khớp; đau cơ, đau xương do chấn thương: Rễ muồng truổng tươi 30- 50g, nếu khô 15g. Sắc uống, ngày một thang, chia 2 lần trước bữa ăn 1h30 phút.

Hoặc vỏ thân muồng truổng, hy thiêm, phòng kỷ, mộc thông, thổ phục linh, mỗi vị 20g. Sắc uống, ngày một thang, chia 3 lần uống trong ngày, trước bữa ăn.

Trị viêm gan, vàng da: rễ muồng truổng, cây ban (cây nọc sởi: Hypericum japonicum), nhân trần, bòi ngòi lớn (Hedyotis hedyotidea (DC.)Hand. Mazz.), mỗi vị 15g. Sắc uống trong ngày. Uống trước bữa ăn 1h30 phút. Khi uống thuốc, cần tránh uống rượu bia. Cần lưu ý, cây nọc sởi và cây bòi ngòi, dùng toàn cây phơi khô.

Trị đau dạ dày, đau bụng: quả muồng truổng tán bột mịn, uống với nước sôi để nguội, mỗi lần 3- 5g. Có thể phối hợp với bột cam thảo, đồng lượng.

Trị đau, nhức răng: vỏ rễ muồng truổng, rửa sạch, thái nhỏ, nhai, ngậm. Khi nhiều nước bọt thì nhổ đi. Có thể lấy vỏ rễ, ngâm vào rượu 40 độ. Sau 3-5 ngày, lấy rượu, ngậm trị đau nhức răng. Có thể phối hợp ngâm với quả xuyên tiêu.

Trị mẩn ngứa, dị ứng: lá muồng truổng tươi 30g, lá khế tươi 30g, rửa sạch, giã nát, đắp rồi lấy vải xô sạch, băng vào nơi bị bệnh. Nếu bị ngứa toàn thân, tăng lượng của 2 lá trên lên 50g, rồi giã nát, thêm nước. Dùng nước này rửa vào nơi bị mẩn ngứa, hoặc mụn lở loét.

GS.TS. PHẠM XU N SINH

Cây sen làm thuốc

Cây sen được trồng phổ biến ở nhiều làng quê Việt Nam, là loại cây vừa làm cảnh, làm thực phẩm và làm thuốc. Các bộ phận của cây sen từ rễ, thân, lá, hoa, hạt… đều có tác dụng chữa bệnh.

Hạt sen: có hàm lượng tinh bột và đường rất cao, các chất béo, đạm, canxi, phốt pho, sắt. Theo Đông y, hạt sen có tác dụng bổ tâm, an thần, trị bệnh mất ngủ, suy nhược thần kinh, tỳ vị hư hàn, kiết lỵ lâu ngày.

Tâm sen: vị đắng, tính hàn, không độc. Tác dụng: an thần chữa mất ngủ, khát nước sau khi đẻ do hư nhiệt. Hàng ngày dùng 6 -12g. Tâm sen rang vàng sắc với 2 bát nước còn 1 bát, uống thay nước chè, dùng trong mùa hè để giải nhiệt trừ cảm nắng.

Gương sen (hạt để riêng): vị đắng, chát, mùi thơm, tính ấm. Gương sen xé nhỏ, sấy giòn, tán bột ăn có tác dụng tiêu ứ, tiêu khát, cầm máu, trị băng huyết, đái ra máu, chữa bệnh đái đường rất công hiệu. Gương sen để càng lâu càng có tác dụng chữa bệnh tốt.

Ngó sen: trong ngó sen có tinh bột, đường glucoza, vitamin C. Dùng tươi hoặc thái mỏng phơi khô để dùng dần.

Lá sen: có chất ancaloid làm dịu đau, an thần, chống co giật, giải nhiệt, trừ cảm nắng, làm thuốc cầm máu, chữa thổ huyết, băng huyết, mất ngủ.

- Chữa mất ngủ: Lá sen sắc đặc pha chút đường, uống trước khi đi ngủ khoảng 2 giờ sẽ ngủ ngon.

Sau đây là một số bài thuốc trị bệnh từ các bộ phận của cây sen:

Trị nôn ra máu: lá sen 15g, ngó sen 15g, cỏ nhọ nồi 20g. Cho các vị vào nồi, đổ 3 bát nước sắc còn 1 bát, chia 2 lần uống trong ngày.

Trị chảy máu cam: ngó sen rửa sạch, giã vắt nước cốt uống, nhỏ vài giọt vào mũi.

Trị trẻ biếng ăn, người lớn suy nhược, ăn kém: hạt sen 100g, đậu ván trắng 10g, trần bì 12g, mầm lúa 30g. Tất cả sao qua, tán mịn, ngày uống 3 lần mỗi lần 100g, uống với nước cơm.

Trị viêm mũi, ngạt mũi lâu ngày: cánh hoa sen thái chỉ phơi khô 100g, bạch chỉ 100g. Tất cả tán mịn, cuốn giấy như cuốn thuốc, hút phả khói ra mũi liên tục trong vòng 1 tuần.

Trị đau lưng, mệt mỏi: nhụy sen 4g, cam thảo 6g. Tất cả cho vào nồi, đổ 3 bát nước sắc còn 1 bát, uống trước khi đi ngủ.

Lương y MINH CHÁNH

Chữa cảm mạo, ho, sốt nóng với cây đại ngải

Cây đại ngải còn có tên khác là đại bi, từ bi xanh, bơ nạt, người Tày gọi là phặc phả, người Thái gọi là co nát. Là loại cây nhỏ, cao khoảng...